Tìm nguồn nước sinh hoạt cho vùng khát

Trong bối cảnh nguồn nước mặt đang ngày càng trở nên khan hiếm, việc đầu tư khai thác nguồn nước dưới đất được coi là giải pháp hiệu quả, nhất là tại các vùng núi cao, vùng khan hiếm nước. Tuy nhiên, việc tìm ra nơi có lưu lượng nước ngầm lớn, chất lượng tốt lại chưa được các địa phương tổ chức khai thác có hiệu quả.



Bà con vùng cao đang sử dụng nguồn nước sạch từ nguồn vốn hỗ trợ của nhà nước


Giải khát cho đồng bào vùng cao

Đường lên Đồng Văn (tỉnh Hà Giang) mùa này, bên những vách đá tai mèo là những vạt ngô xanh mơn mởn tràn đầy nhựa sống sau trận mưa đầu mùa. Chị Lù Thị Nem (tổ 5, thị trấn Đồng Văn), một trong những hộ gia đình được thụ hưởng nguồn nước ngầm từ giếng khoan, chia sẻ: Trước đây, nước sinh hoạt của gia đình và các hộ dân trên địa bàn chủ yếu được lấy từ nguồn nước mặt tại thôn Làng Nghiến (thị trấn Đồng Văn), không đủ đáp ứng nhu cầu của người dân, nhất là vào mùa khô, dẫn đến tình trạng “ăn đong” nước từng bữa. Kể từ năm 2014, khi có nguồn nước ngầm được trạm khai dẫn, cấp cho từng hộ gia đình, cho nên không phải “ăn đong” nước như trước. Giờ đây, các hộ dân không chỉ đủ nước sinh hoạt hằng ngày, mà chất lượng nước luôn được bảo đảm.

Trước thực tế đó, việc tìm kiếm nguồn nước ổn định, phục vụ nhu cầu nước sinh hoạt, sản xuất lâu dài cho đồng bào vùng cao luôn là điều “trăn trở” đối với chính quyền tỉnh Hà Giang. Cách đây khoảng chục năm, Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước (nay là Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia – Bộ Tài nguyên và Môi trường) đã điều tra, đánh giá về nguồn nước dưới đất; khoan khảo sát, đánh giá 83 mũi khoan ở 16 khu vực và đã xác định tổng trữ lượng nước 1.600 m3/ngày. Nhưng thời điểm đó chưa có giếng khoan nào được khai thác và đưa vào sử dụng. Mãi đến năm 2008, trên cơ sở những dữ liệu sẵn có, tỉnh Hà Giang phối hợp Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia (QH và ĐTTNNQG) đã điều tra, đánh giá lại hiện trạng gần 40 giếng khoan ở bốn huyện nêu trên và xác định có 14 giếng khoan đạt yêu cầu có thể khai thác sử dụng.





Từ nguồn hỗ trợ của T.Ư, huy động ngân sách địa phương, năm 2013 tỉnh đã xây dựng trạm khai dẫn, xử lý nước ngầm tại hai giếng khoan ở thị trấn Đồng Văn, với công suất khai thác đạt 300 m3/ngày đêm. Năm 2014, công trình hoàn thành và đưa vào sử dụng khai thác, đã đáp ứng phần nào nguồn nước sinh hoạt của người dân. Từ hiệu quả của mô hình khai dẫn và cấp nước sạch ở thị trấn Đồng Văn, tỉnh tiếp tục đầu tư trạm khai dẫn hai giếng khoan tại thị trấn Mèo Vạc, đã hoàn thành và bàn giao cho huyện quản lý cuối năm 2015, với công suất 500 m3/ngày đêm đáp ứng nhu cầu nước sinh hoạt cho người dân trong khu vực. Niềm vui lớn nhất, là các công trình này không chỉ giúp ổn định cả về trữ lượng và chất lượng nước, mà còn từng bước thay thế nguồn nước mặt không ổn định, chưa qua xử lý như trước đây, từng bước giải quyết dứt điểm tình trạng thiếu nước sinh hoạt của người dân vào mùa khô.

Đánh giá về thực trạng phát triển nguồn nước và các mô hình cấp nước tại vùng núi cao, vùng khan hiếm nước ở nước ta, Tổng Giám đốc Trung tâm QH và ĐTTNNQG Tống Ngọc Thanh cho biết: Những năm gần đây, thông qua một số chương trình, dự án phục vụ cấp nước sinh hoạt ở các vùng khan hiếm nước, đơn vị đã thi công được 814 lỗ khoan, trong đó có 617 lỗ khoan có lưu lượng hút thí nghiệm hơn 1 m3/ngày tại 338 vùng trên cả nước, với tổng trữ lượng điều tra, đánh giá gần 190 nghìn m3/ngày. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, việc tìm ra được các lỗ khoan có lưu lượng lớn, chất lượng nước tốt, nhưng chưa được các địa phương đầu tư khai thác một cách thật sự có hiệu quả, gây lãng phí nguồn tài nguyên, nguồn lực. Nguyên nhân, là do trong nhiệm vụ điều tra, tìm kiếm nguồn nước không có phần kinh phí dành cho đầu tư khai dẫn, mà phần khai dẫn lại giao cho địa phương thực hiện. Do nguồn kinh phí còn hạn chế, cho nên địa phương không tự làm được. Trong khi đó, một số công trình được đầu tư xây dựng từ các chương trình khác khá quy mô, công nghệ hiện đại, nhưng do không có số liệu điều tra, đánh giá về nguồn, cũng như do sự thay đổi bất thường của khí hậu, cho nên về mùa khô không có nước để vận hành. Điển hình như trên địa bàn tỉnh Quảng Bình, có 103 công trình nước sạch nông thôn được đầu tư, nhưng 26 công trình đang “đắp chiếu”; 14 công trình sắp phải “khai tử”, số còn lại hoạt động kém hiệu quả.